Giao Diện

Green
Cream - Red
Green - Brown
Purple
Mặc Định

Liên hệ nhanh

Quay lại
Khách Sạn Xuân Trường - Phòng Đơn
Khách Sạn Xuân Trường - Phòng Đôi
Khách Sạn Xuân Trường - Phòng Gia Đình

Khách sạn Xuân trường sẽ đem đến cho các bạn dịch vụ tốt nhất khi đến Du lịch tại Bà Rịa Vũng Tàu.


Giới thiệu

Du lịch hồ mây

Cáp treo và khu du lịch Hồ Mây - Vũng Tàu
 
Đến với Khu du lịch Hồ Mây, du khách sẽ được đi trên hệ thống cáp treo công nghệ hiện đại với công suất 2.000 ngướl/giờ. Ngồi trên cabin du khách sẽ được ngắm toàn cảnh thành phố Vũng Tàu xinh đẹp với núi non hùng vĩ và biển cả mênh mông. Chỉ với thời gian 5 phút, du khách sẽ đến đỉnh núi Lớn để bắt đầu cho chuyến tham quan Khu du lịch Hồ Mây tuyệt vời này.

cap treo ho may (597 x 412)

Nguồn: bariavungtautourism.com.vn

Thông tin chi tiết xin mời xem thêm tại http://www.vcct.com.vn

Thích ca Phật đài

 

Thích ca Phật đài

Cổng vào Thích Ca Phật Đài
Tượng Thích Ca Phật Đài
Thích Ca Phật Đài là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Vũng Tàu. Khu vực chùa rộng 6 ha xây dựng trên sườn núi Lớn. Xưa kia, nơi đây là khu rừng rậm hoang vu. Đến năm 1957, có ông quan Phủ, tên là Lê Quan Vinh, đã hồi hưu dựng lên tại đây ngôi Thiền Lâm tự để làm nơi tu hành cho cả gia đình. Vài năm sau, một nhóm hành hương của Hội Phật Giáo miền Nam đến viếng Thiền Lâm tự và nhận thấy vị trí xung quanh chùa rất lý tưởng để xây dựng thành khu vực tôn thờ Ngọc Xá Lợi cũng như diễn tả lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca.Ngày 20/07/1961 chùa Thich Ca Phật Đài đã được khởi công xây dựng, và được khánh thành trọng thể vào ngày 09/06/1963, kinh phí chùa do Phật tử quyên góp.
 
Bảo Tháp
Một bảo tháp cao 3 mét là nơi chứa di cốt của vị sư đầu tiên trụ trì chùa này, đó chính là ông Phủ Vinh.Phía trên là ngôi thiền lâm tự, nơi thờ phật chính của chùa.

Bên trái Thiền Lâm Tự là bức tượng "Phật Đản Sinh". Tượng diễn tả một hài nhi đứng trên một toà sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Truyền thuyết kể lại rằng Đức Phật là thái tử con vua Ấn Độ Suddhodana Gotama (Tịnh Phạn Cổ Đàm) được sinh ra vào năm 623 trước Công nguyên dưới bóng mát của vườn cây Sala (Long Thọ) đang trổ hoa thơm ngát. Ngay sau khi chào đời thái tử bỗng vùng đứng dậy và bước đi bảy bước, cứ mỗi bước của ngài có một bông sen nở ra đỡ lấy bàn chân. Đứng trên toà sen thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất với ý nghĩa "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" (Giữa trời và đất thì ta cao nhất). Ngay dưới cổ phía trước ngực thái tử lại có dấu chữ Vạn tỏ rằng ngài là cao quý siêu nhân. Vì lẽ đó về sau hoa sen và dấu chữ vạn được dùng làm biểu tượng của Đạo Phật.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Thái tử Tất Đạt Đa xuất gia tu hành
Tượng cắt tóc đi tu: Là bức tượng một chàng trai dùng kiếm cắt tóc diễn tả sự tích sau:

Năm 16 tuổi Thái Tử lập gia đình và cuộc sống cứ thế trôi đi êm ả ấy dân dần làm Thái tử cảm thấy nhàm chán, chàng xin phép Vua cha cho đi ngao du ngoài cung điện. Bốn lần ra khỏi hoàng thành theo bốn cử khác nhau đều làm cho Thái tử thêm ưu phiền tự lự khi trở về.

Lần thứ nhất chàng thấy cảnh một hài nhi chào đời. Lần thứ hai là cảnh một bà già lụ khụ đi ăn xin. Lần thứ ba là cảnh một người bệnh và cuối cùng là một đám ma. Những cảnh này ghép lại giống như một bức tranh toàn cảnh về đời sống con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi (Sinh, lão, bệnh, tử).

Trái với cuộc sống cao sang của cung điện, đời sống của đa số nhân loại ngoài hoành thành đắm chìm trong nỗi cực khổ để tìm kiếm miếng cơm manh áo và chống trả với bệnh tật, đến khi chết đi vẫn là gánh nặng cho người thân. Điều day dứt này làm nảy sinh trong đầu óc Thái Tử một ý chí quyết tâm đi tìm phương cách để giải thoát chúng sinh ra khỏi sự khổ ải và đạt đến sự vĩnh hằng. Vào một đêm mưa to gió lớn, sau khi nhìn lần cuối người vợ thân yêu và đứa con trai bé bỏng. Thái tử lặng lẽ trốn ra khỏi hoàng cung trên lưng con ngựa Kanthala cùng dẫn theo tên hầu Chana. Đến một khu rừng hoang dã, chàng xuống ngựa dùng kiếm cắt tóc để biểu lộ quyết tâm sắt đá của mình bắt đầu cuộc sống tu hành.

Tượng Kim Thân Phật tổ: Sau những năm nhập vào chốn tu hành, nhà sư Shidharta đã giác ngộ được phương sách giải thoát cho nhân loại và trở thành Phật Thích Ca. Hình tượng Đức Phật Thích Ca thường được diễn tả như tượng Kim Thân Phật Tổ. Bức tượng này đúc bằng xi măng cốt sắt, tượng cao 6 mét, đặt trên toà sen cao 4 mét.
 
Voi khỉ cúng dường đất Phật

Tượng Voi & Khỉ dâng hoa cho Đức Phật: Phía bên phải là tượng voi, khỉ dâng hoa cho Đức Phật để nhắc nhở phật tử phải luôn luôn đoàn kết theo sự tích sau:

Trong số những đệ tử kế cận của Đức Phật có hai vị cao tăng thường hay tranh cãi lẫn nhau dần dần dẫn đến hiềm khích. Sau khi giải hoà không được, Đức Phật bèn bỏ vào rừng. Có lẽ thú vật cũng cảm ứng trước giáo pháp của Ngài nên hàng ngày voi và khỉ đều đến dâng quả . Mãi về sau hai nhóm đã hoà đồng và cùng đến với Ngài để tiếp tục giảng đạo.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Tượng Phật nhập Niết Bàn

Tượng Phật Nằm: Qua khỏi vườn Lộc Giả lên cao hơn có bức tượng Phật nằm dài 12 mét và một số đồ đệ đứng xung quanh. Tượng này diễn tả lúc đức Phật nhập Niết Bàn (đi vào nơi thanh cao, vĩnh hằng). Năm ấy được các đồ đệ của Ngài gọi là năm Phật Lịch thứ nhất tức là năm 544 trước công nguyên

Toà nhà Bát Giác: Ngay bên phải bức tượng Voi, Khỉ dâng hoa quả là một toà nhà hình bát giác tượng trưng cho vườn Lộc Giả, nơi Đức Phập chuyển pháp luân (giảng đạo). Theo kinh sách thì hai tháng sau khi đắc đạo, Phật Thích Ca đã gặp 5 vị đạo sĩ tại vườn Lộc Giả rồi thu nhận làm đồ đệ và truyền dạy lần đầu tiên giáo lý nhà Phật. Dựa theo đó, bên trong ngôi nhà Bát Giác này có xây một bàn thờ ở trên là tượng Phật cùng 5 môn đệ đầu tiên.

Chung quanh bệ thờ tám mặt này đều ghi những lời Phật dạy với nội dung khuyên con người phải ăn ở đàng hoàng, ngay thẳng, chân thật nên gọi là "Bát chánh đạo".

Bên trên đỉnh toà "Vườn Lộc Giả" có đúc một cây "Đuốc Huệ" với ý nghĩa đạo Phật sẽ soi sáng trí óc nhân loại.

Dưới "Đuốc Huệ" là 12 nấc "Thập nhi nhân duyên" nói lên 12 căn cơ con người sẽ vường mắc trong cuộc đời trần tục, dưới nữa được xây hình bốn mặt tượng trưng cho "Tứ diệu đế" của nguyên lý đạo Phật

Bảo Tháp: Trở lạo đường cũ rồi rẽ trái ta thấy toà Bảo Tháp, tương truyền là nơi lưu giữ kho cốt của Đức Phật sau khi hoả táng. Bảo tháp cao 19m dựng trên nền bát giác rộng lớn, trước Bảo Tháp là một bàn thờ và một tấm bia ghi bằng chữ Hán "Nam mô bổn sư Thích Ca mâu ni Phật" nghĩa là "Hết lòng tôn kính Phật Thích Ca Mâu ni là bậc thầy của chúng ta".

Bốn góc Bảo Tháp có bốn đỉnh chứa đựng đất thiêng thỉnh về từ bốn nơi động tâm của Đức Phật tại Ấn Độ, đó là:

Lumbini: Nơi ngài sinh ra

Uruvela: Nơi thành đạo

Isipantana: Nơi truyền đạo

Kusinara: Nơi nhập niết bàn

Tương truyền trong Bảo Tháp co chứa đựng 13 viên Ngọc Xá Lợi do các nước Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện hiến cúng.
 

 

Đình Thần Thắng tam

Theo truyền ngôn, Đình Thần Thắng Tam được xây dựng từ đời vua Minh Mạng (1820 – 1840). Hiện nay, đình thần còn lưu giữ 2 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ tại đình là Thiên Y A Na, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thượng Đẳng Thần, Cá Ông, Thuỷ Long Thần Nữ… Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng thắng ở Vũng Tàu, đó là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Chuyện kể rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo vệ thương thuyền của người Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng tàu, họ đã lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của mình là Phước Thắng. Ba đội quân vừa làm việc nước – bảo vệ sự thanh bình của bờ biển cửa ngõ, vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân cho giải ngũ và ban thưởng phần đất mà họ có công khai phá. Từ ba vị trí của ba đội quân dần dần hình thành nên ba làng thắng. Làng thứ nhất gọi là làng Thắng Nhất do Ông cai đội Phạm Văn Dinh chỉ huy. Làng Thắng Nhì do Ông cai đội Lê Văn Lộc chỉ huy. Làng Thắng Tam do Ông cai đội Ngô Văn Huyền chỉ huy. Dân các làng Thắng vừa làm ăn sinh sống vừa bảo vệ an ninh bờ biển. Sau khi ba đội Ông chết, Triều đình ban sắc phong cho ba ông. 

Đình thần Thắng Tam lúc đầu xây dựng chỉ là nhà tranh vách lá. Năm 1835 mái được lợp ngói, năm 1965 được trùng tu mới như hiện nay. Kiến trúc Đình Thần Thắng Tam có Cổng Tam Quan, Nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Ngôi Đình Trung, sân khấu võ ca. Trong đình bài trí nhiều đồ lễ, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đình thần thắng tam kiến trúc theo lối nối tiếp. Đó là một nhà gồm bốn ngôi nhà nối liền nhau bằng một lối đi bên hông: Tiền Hiền – Hội Trường – Đình Trung – sân khấu võ ca. Ngôi tiền hiền được lợp bằng ngói âm dương, trên mái có hình “Lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi. Đầu các đòn tay, xà gồ, cột đều chạm khắc hình rồng. Nội thất nhà Tiền Hiền bày bốn bàn thờ: bàn thờ thổ công, Tiền Hiền và Hậu Hiền, Tiền Vãng và Hậu Vãng ( tức thờ thổ công, tiền hiền và hậu hiền, dân làng đến trước đến sau)

Hội trường là nơi sinh hoạt của Hội viên thuộc hội đình ( hội đình thắng tam hiện nay có hơn 500 hội viên, có ban hương chức thôn hội chia làm 10 bậc từ thấp đến cao).
Tiếp sau phần hội trường là ngôi đình trung có cấu trúc tương tự ngôi tiền hiền. Ngôi đình trung bài trí 10 bàn thờ theo lối 3-4-3: thờ Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Thánh Phi, Hậu Hiền – Thần, Hội Đồng, Phụ Án Và Tiền Án – Cao Các, Thiên Sư, Ngũ Thơ, Ngũ Tự và Tiền Hiền ( bốn bàn thờ phía giữa nằm vượt lên phía trước). Khác với nhiều nơi, thần nông được thờ ngoài trời, ở đình thần thắng tam, thần nông được thờ bên trong.

Sân khấu võ ca là nơi diễn tuồng, hát bội khi đình thần có lễ.
Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá, đình thần thắng tam còn lưu giữ những lễ hội in đậm văn hoá dân gian và bản sắc dân tộc. Hàng năm Đình Thần Thắng Tam đều có tổ chức lễ hội cầu an trong 4 ngày, từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Đây là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá. Việc tổ chức cúng tế lễ vật tế thần, cách dâng hương quỳ lạy, chiêng trống kèn nhạc … của lễ hội cầu kỳ và nhiều vẻ. Lại có những tục kiêng kỵ trong tế lễ được lưu truyền, gìn giữ và chấp hành đầy đủ từ xưa đến nay. Chẳng hạn, người có tang không được trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ trong nghi lễ, heo dùng để tế lễ phải có bộ lông thuần màu…

Trong quá trình lễ hội của đình, người ta thường tổ chức nhiều trò vui giải trí như múa lân, hát bội … đình thần thức suốt đêm, tiếng trống, tiếng nhạc tiếng hát làm huyên náo, rộn ràng cả một vùng suốt mấy ngày đêm. 

Lễ hội đình Thần Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Du khách viếng thăm đình Thần Thắng Tam vào dịp có lễ hội, hẳn đó là chuyến tham quan thú vị và sinh động nhất trong chuyến du lịch Vũng Tàu.

MIẾU BÀ

Miếu Bà nằm bên trái khu Đình Thần Thắng Tam, còn có tên Miếu Ngũ Hành. Tên gọi ấy phản ánh các đối tượng được thờ cúng trong miếu.

Tương truyền miếu bà được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đầu nó chỉ là ngôi nhà tranh vách do ngư dân Thắng Tam xây dựng để thờ Ngũ Hành, tức năm yếu tố vật chất: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (theo tư tưởng triết học Trung Quốc mà Việt nam ảnh hưởng). Ngoài Ngũ Hành, Miếu Bà còn thờ hai vị hộ quốc được vua phong Thượng Đẳng Thần là bà Thiên Y-A-Na và Thuỷ Long Thần Nữ. Điều này chứng tỏ tính riêng của ngôi miếu khi chủ nhân của nó là những người sống bằng nghệ chài lưới trên biển.

Miếu Bà được kiến trúc theo lối một gian hai chái. Trên mái có hình Lưỡng Long Vhầu Nguyệt. Bên trong có 8 bàn thờ. Bàn giữa chính điện thờ 5 bà Ngũ Hành và hai vị Thượng Đẳng Thần. Trên có bày tượng 5 Bà và bộ ngũ sự, hai bên có thờ 5 Cô, 5 Cậu, hai vị Thượng Đẳng thần không có tượng. Tiếp theo bên trái là bàn thờ Quan Công, Quan Bình và Châu Xương là những bậc trung nghĩa và sẵn sàng cứu hộ những người đi biển khi họ gặp chuyện không may. Bên phải là bàn thờ Ông Địa – Thổ Công. Phía sau là bàn thờ Tiền Hiền và bàn thờ những người giàu lòng nhân ái, độ lượng trong làng.

Hàng năm, Miếu Bà lễ hội vào ba ngày từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch. Quản lý miếu và tổ chức điều hành lễ hội là những người trong ban điều hành. Hội viên của Miếu bà chỉ giành cho nữ giới. Ban điều hành cũng chỉ do các bà phụ trách (ba bà cố vấn, sáu bà trong ban điều hành với 160 hội viên).

Lễ hội Miếu Bà là ngày sôi động và linh đình. Ngoài việc cúng tế thần linh người ta còn tổ chức múa lân, các trò vui, ban đêm tổ chức hát tuồng. Vốn có tiếng hiển linh, vào các ngày hội người từ thập phương về hành hương, phụng cúng rất đông. Miếu bà và lễ hội Miếu Bà là nét đặc sắc của văn hoá dân cư ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu.

LĂNG CÁ ÔNG

Nằm trong khu Đình Thần Thắng Tam phía bên phải. Lăng Cá Ông được xây dựng cùng thờ kỳ với Miếu Bà, nghĩa là khoảng cuối thế kỷ XIX. Hiện nay trong lăng còn bảo tồn xương Cá Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ hơn 100 năm trước đây.
Truyền thuyết về Cá Ông hiện còn lưu truyền ở Vũng Tàu và từ rất sớm đã được chép trong thư tịch cổ, rằng: Cách đây hơn 100 năm (giữa thế kỷ 19) có một đầu cá to lớn trôi dạt vào bãi Tầm Dương. Đầu cá lớn đến nỗi ngư dân không thể đưa vào bờ được. Họ phải xóc cờ rào lại chờ cho thịt rữa sạch rồi tháo từng khúc xương đưa vào miếu thờ.

Lăng Cá ông Thắng Tam có tới ba sắc phong do vua ban tặng. Vua Thiệu Trị ban hai đạo sắc vào năm thứ năm (1846), Vua Tự Đức ban cho đạo sắc vào năm thứ ba (1850). Hiện nay vào ngày 16/8 âm lịch, cứ ba năm một lần những người quản lý Lăng được gọi là hội “Lương hữu Vạn Lạch” lấy một xương trong Lăng đem thờ trong ba tủ kính. Vào ngày Vía Cá ông, ngư dân và khách thập phương tụ hội vê đông vui nhộn nhịp. Ngời ta đến đây cầu mong sự bình yên may mắn trong chuyến đi biển, xin xăm báo trước điều tốt lành, rủi ro và xem hát, vui chơi giải trí...

Lăng Cá ông có kiến trúc theo lối cổ xưa. Bên trong bày ba tủ kính lớn đựng xương tương xứng với nó là ba bàn thờ. Hai bên tả, hữu có thêm hai bàn thờ của Bà Sáu (Thần Rùa) và tổ nhạc. Ngư dân Vũng Tàu quan niệm rằng mỗi khi có Cá ông chết tấp vào bờ, người nào trông thấy đầu tiên thì được xem như con trưởng của Cá ông. Khi làm lễ an táng, người đó phải chịu tang và thực hiện các nghi lễ tang ma như là đám cho cha đẻ mình vậy.

Lễ hội “Nam Hải Đại tướng quân” - Danh hiệu Cá ông do vua Thiệu Trị ban tặng được tổ chức trùng với ngày Vía (ngày mất) của cá. Lễ hội kéo dài trong ba ngày từ 16 đến 18/8 âm lịch hàng năm, gồm có : Lễ cúng ông, lễ nghinh ông (đón cá) gồm nhiều ghe thuyền trang trí lộng lẫy, thắp đèn sáng trưng chạy vòng biểu diễn ngoài biển. Những hình thức tế lễ Cá ông mang đậm màu sắc riêng của cư dân miền biển, nhưng trong lễ hội người ta cũng dành một buổi cúng Tiền Hiền, một buổi tế lễ thần linh - như việc tổ chức cúng tế trong đình làng ...

Khu di tích Đình Thần Thắng Tam, bao gồm cả Miếu Bà và Lăng Cá ông ẩn chứa những giá trị văn hóa quý báu của cư dân miền biển Vũng Tàu. Những nét đẹp về phong tục tập quán dường như được “hóa thân” trong từng chi tiết kiến trúc của di tích, của phong cách sinh hoạt tổ chức lễ hội. Khu di tích Đình Thần Thắng Tam và những lễ hội liên quan của nó đã bảo lưu được những di sản qúy giá. Hiện nay, không kể các ngày lễ hội là những ngày có rất đông du khách hành hương mà những ngày thường khu Đình Thần Thắng Tam cũng chào đón rất nhiêu khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm viếng.

(Theo BRVTTR)

 

Niết Bàn tịnh xứ

Niết Bàn Tịnh Xá nằm ở trung tâm Bãi Dứa, toạ lạc trên triền núi, hướng mặt ra biển. Ở vào vị trí nên thơ đó, Niết Bàn Tịnh Xá có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Di tích này được khởi công xây dựng năm 1969, đến năm 1974 mới hoàn thành. Đây là một công trình đồ sộ gồm nhiều phân, nhiều cấp, toạ lạc trên diện tích gần 10.000m2. Lối lên rộng rãi, dọc theo triền dốc.

Cổng chính nổi bật với bốn chữ Hán: Niết Bàn Tịnh Xá. Hai trụ cổng được khắc đôi câu đối đầy ý nghĩa :

Niết Bàn thị hiện, độ chúng niệm phật tâm thôn, chân giải thoát.
Tịnh xá quang minh, vô lậu giác ngộ chánh pháp, hiển như lai.

 

Entrance to Niết Bàn Tịnh XáPhía trong là hai pho tượng ông Thiện và ông Ác cao lớn đứng trông cửa. Bên phải cổng có một bức phù điêu, rộng 2m, cao 4m chạm hình long mã, đầu rồng, chân ngựa bước trên sóng nước, phía trên hạc bay múa trong mây. Phù điêu thực hiện bằng kỹ thuật ốp mảnh sứ men trắng vẽ lam, một kỹ thuật khá thịnh hành ở các chùa miếu, lăng tẩm Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sắc hoa văn mảnh sứ tạo nên sự rực rỡ, trang nhã và sống động cho bức phù điêu. Đối diện với bức phù điêu và phía trước chính điện là trụ phướn thanh thoát, cao vút 21m, gồm 42 não. Trụ phướn được đúc bê tông, dưới to, trên nhỏ dần, xung quanh ốp gạch men màu vàng đỏ, trên có ba nhánh búp sen toả đều ra ba hướng là một nét độc đáo của Niết Bàn Tịnh Xá.

Đường lên chính điện là hệ thống 37 bậc tam cấp có lối rộng chừng 2m. Bên phải ngay lối lên là hòn non bộ và lầu trống có Phật Di Lặc ngồi trên cao. Chính giữa là tượng hộ pháp Di Đà. Chiếc lư đồng Tứ Linh (Long, Ly, Quy, Phụng) có kích thước lớn, được trang trí khéo léo, công phu là báu vật của chùa.

Chính điện Niết Bàn thể hiện một bức tượng Phật nhập Niết Bàn rất lớn - có lẽ vì vậy mà ngôi chùa có danh xưng Niết Bàn Tịnh Xá? Tượng Phật nhập Niết Bàn, màu nâu hồng tạo khắc đánh bóng công phu, khéo léo nằm nghiêng nhìn về hướng Tây, đầu gối lên tay phải, dài 12m nổi bật giữa chính điện. Vị thế của bức tượng, đầu quay về hướng bắc, chân duỗi thẳng hướng nam, theo truyền thuyết là tư thế của Đức Phật khi nhập Niết Bàn trên tảng đá tại Kusinara, gan bàn chân Phật được khắc 52 điểm ấn.IMG_2616.jpg picture by doanchithuy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bức tượng Phật nhập Niết Bàn càng trở nên sinh động, cuốn hút vì được đặt trong không gian có nhiều công trình Phật giáo mang tính nghệ thuật cao: Phía trên đầu và sau lưng Đức Phật Nhập Niết Bàn là quang cảnh thiên nhiên xanh tươi nổi bật với hai cây Long Thọ đắp nổi nhiều lớp. Những con công, con hạc dang rộng cánh ẩn hiện trong mây, những con sư tử, con hổ, con khỉ phủ phục chầu Đức Phật viên tịch nhập Niết Bàn... Tất cả đều được đắp nổi, chạm khắc công phu với màu sắc hài hoà, thanh khiết tạo nên khung cảnh vừa trang nghiêm vừa sâu lắng chốn cửa Thiền...

 Trên bức tường bên phải chính điện treo một bức tranh sơn mài lớn thể hiện cảnh Phật ngồi thiền. Bên cạnh là một bức tranh khác thể hiện vườn Lộc dã, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu tiên...

Nhìn chung, chính điện Niết Bàn Tịnh Xá không lớn, ngoài những pháp khí nhà chùa, chính điện bài trí nhiều tích Phật, trong đó nổi bật là tượng Đức Phật nhập Niết Bàn, một tác phẩm điêu khắc lớn là niềm tự hào của tăng ni, tu sĩ Phật Giáo Vũng Tàu.

Phía sau chính điện là “Trai đường” của Chư Tăng. Trong phòng có treo 34 bức ảnh diễn tả lại cuộc đời Đức Phật từ khi sinh ra đến khi các đệ tử chia nhau Xá lợi. Trong phòng còn bài trí nhiều tranh tượng khác như tranh Di Lặc Lục Trần...

Dựa vào thế núi, Niết Bàn Tịnh Xá toạ lạc trên nhiều độ cao khác nhau. Phía trên và sau chính điện thờ Phật Tổ. Điện thờ Phật Tổ bài trí ba bức tượng Phật Thích Ca ngồi thiền rất lớn, theo thế đối xứng. Tầng trên là một mặt bằng rộng, thoáng đạt, gió mát, du khách có thể dõi tầm mắt ra xa phía biển khơi, hoặc dễ dàng quan sát ngắm cảnh bờ biển Bãi Dứa. Khoảng sân thực sự là nơi vãn cảnh của du khách. Ở đây người ta bài trí rất nhiều bon sai, hoa cảnh. Thấp thoáng phía sau những chậu cảnh mỹ thuật là thuyền Bát Nhã, một con rồng lớn cách điệu dày công trang trí và rất đẹp. Xung quanh thuyền được ốp mảnh sứ men lam, men màu. 
Photobucket
Nổi bật trên mặt bằng trang trí nhiều hoa cảnh của sân thuyền Bát Nhã là gác chuông lớn nối liền với dãy nhà tĩnh nghỉ của các tu sĩ. Gác chuông được xây theo hình vuông, 4 mái uốn cong, trong tháp có một cái chuông lớn gọi là Đại Hồng Chung. Đại Hồng Chung cao 2,8m, chu vi 3,8m, nặng tới 3500kg. Đại Hồng Chung không những là chiếc chuông lớn nhất và nặng nhất mà còn có âm vang hay nhất trong các chuông chùa hiện có ở Vũng Tàu.

 



Từ gác chuông, toàn cảnh Niết Bàn hiện ra trước mặt du khách. Đó là một công trình kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và biển trời, cây xanh và tiếng chuông ngân tha thiết.
Looking out to sea through the wheel of dharma with swastika, baby Buddha, and phallus-lotus stalk
Hằng năm, vào dịp các lễ tết, chủ nhật hay ngày rằm, ngày đầu tháng, có hàng vạn lượt khách đến Niết Bàn Tịnh Xá chiêm bái, vãn cảnh. Với một phong cách kiến trúc đặc biệt toạ lạc ở một vị trí tươi đẹp của Bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh Xá là một thắng cảnh nổi tiếng của Vũng Tàu được rất nhiều người ở mọi miền đất nước mến mộ và ước mong được một lần vãn cảnh, chiêm bái.
(Theo BRVTTR)

Hòn Bà

 
Hòn Bà là một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xoá rất nên thơ, nằm phía ngoài biển theo đường hạ Long vòng Núi nhỏ, Từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong. Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng 200 m. Năm 1881 ông Hồ Quang Minh gốc miền Trung đã bỏ kinh phí ra xây dựng một ngôi miếu nhỏ trên đảo gọi là Miếu Bà.
Miếu Bà hiện nay có chiều cao nổi trên mặt đất là 4 m. Trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m, trước kia tếng là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước chống đế quốc. 

Khi thủy triều xuống thấp, có thể men theo một lối đá chập trùng để ra đảo. Ngày rằm hay mồng một, bà con thường ra đảo rất đông để thắp hương cầu may tại ngôi  miếu nhỏ này.